TÍN HỮU HIỆP THÔNG

Các giáo phụ là ai?

Ngôn ngữ nhà đạo: CÁC GIÁO PHỤ

Các giáo phụ là ai?

Các giáo phụ là ai?

Theo ngôn ngữ tiếng Việt, Giáo phụ có thể được hiểu là người phụ tá cho giáo chính. Nhưng thực ra, Giáo phụ là những người Cha Của Hội Thánh (patres ecclesiae), là những chứng nhân có uy tín về đạo đức tông truyền.

Trong các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, danh xưng Giáo phụ dùng để chỉ các giám mục, kế vị các tông đồ; những người “sinh” các tín hữu vào đời sống siêu nhiên nhờ lời giảng và bí tích Thanh tẩy. Cũng trong những thế kỷ đầu tiên này, danh xưng này còn được dùng để nói về các vị nghị phụ, là những các giám mục họp nhau ở công đồng để xác định giáo lý đức tin. Vì thế, các nghị phụ này trở thành những vị “cha già” của Hội thánh. Từ Vincent de Lerins trở đi, các Giáo phụ ám chỉ các chứng nhân đặc biệt của đạo lý đức tin.

Các Giáo phụ được phân chia theo nhiều tiêu chuẩn

Về địa lý: Đông phương và Tây phương. Các Giáo phụ giảng dạy ở Đông phương chủ yếu bằng ngôn ngữ Hy Lạp thì được gọi là các Giáo phụ Đông phương hay Giáo phụ Hy Lạp. Trong khi các Giáo phụ giảng dạy ở Tây phương chủ yếu dùng ngôn ngữ Latinh thì được gọi là các Giáo phụ Tây phương hay Giáo phụ Latinh.

Về thời gian, trước hết là các Tông phụ, tức các Giáo phụ sống rất gần các thánh tông đồ tiên khởi trong khoảng giữa thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai: thánh Barnabê (cuối thể kỷ 1 và đầu thế kỷ 2), Giáo hoàng Clêmentê (+101), thánh Inhaxiô giám mục Antiôkia (+107), thánh Polycarpô(+155), thánh Hermas (đầu thế kỷ 2). Kế đến là các Giáo phụ hộ giáo, rồi đến thời hoàng kim, tức là thời các Giáo phụ sống và giảng dạy từ Công đồng Nixêa (325) cho đến Calxêđôxia (451). Sau Công đồng Calxêđôxia là thời suy thoái của Giáo phụ.

Điều kiện để được được phong danh hiệu Giáo Phụ

Thứ tiên là phải cổ kính, tức là phải sống trong khoảng 6 thể kỷ đầu của Kiô Giáo. Điều đó có nghĩa là các vị được sống gần thời các thánh tông đồ, hay gần các người kế vị của các tông đồ. Theo ý kiến chung của các học giả, thời các Giáo phụ chấm dứt với Ghê-gô-ri-ô cả (+604) và I-si-đô-rô Sevilla (+636) bên Tây phương và Gioan Đa-mas-cô (+749) bên Đông phương. Thứ đến, phải có địa lý chính thống, tức là những đạo lý đức tin đã được mạc khải và truyền lại từ các tông đồ. Đồng thời, các vị phải có đời sống thánh thiện, làm gương cho người khác. Sau cùng là được Giáo hội nhìn nhận.

Những đường nét chính yếu của các Giáo phụ

Nhờ luôn quy chiếu về nguồn Kinh thánh, nên các Giáo phụ là những nhà chú giải Kinh thánh. Công việc của các ngài làm chứng cho những cố gắng tri thức miệt mài, tinh thần đạo đức sâu xa, những cảm nghiệm sâu sắc về Lời Chúa.

Vào thời đầu, Kitô giáo phải đương đầu với những thách đố khi trình bày niềm tin và đời sống luân lý của mình. Thế nhưng, các Giáo phụ đã ý thức mạnh mẽ về tính chất độc đáo của Kitô giáo, đồng thời cũng nhận thức tính chất phong phú của văn hoá, triết học ngoại giáo. Chính vì thế mà các ngài đã đào sâu niềm tin của mình, luận giải mầu nhiệm Thiên Chúa, suy niệm và học hỏi Thánh kinh, đối thoại với những người đương thời đang nhìn Kitô giáo như một sự phủ nhận lý trí, lương tri và đời sống xã hội. Nhờ đó, các ngài đã sáng suốt hội nhập văn hoá vào trong chân trời đức tin Kitô giáo, đồng thời cũng tránh được khuynh hướng duy lý, chỉ đề cao lý trí và từ chối khai mở đối với đức tin.

Các Giáo phụ đã sống ở thượng nguồn đức tin Kitô giáo. Do đó, kinh nghiệm Chúa Kitô còn là kinh nghiệm sống động nơi các ngài, nơi xã hội của các ngài, một xã hội ít bị dao động bởi những chiều hướng thế tục. Cho nên, các ngài như được cảm nếm trong đời sống của mầu nhiệm Thiên Chúa, kinh nghiệm thần linh, thân phận yếu hèn của con người.

Tạm kết

Điều có thể nhận thấy nới các Giáo phụ là tâm tình đạo đức sâu xa, đức tin mạnh mẽ, lòng gắn bó tha thiết với Giáo hội. Chính ý thức mạnh mẽ về tính chất mới mẻ của đức tin tông truyền đã khiến các ngài đào sâu, luận giải và tìm kiếm những ngôn ngữ thích hợp để trình bày niềm tin này và rao truyền cho mọi người thời đại mình. Chính những định hướng này khiến những đóng góp của các Giáo phụ vừa đào sâu đức tin, vừa làm cho suy tư thần học được tiến triển.

Biên soạn theo tài liệu

Phan Tấn Thành, O.P., Nhập môn Thần học, Học viện Đaminh 2010.

Lm. Phê-rô Lê Văn Chính, Giáo trình Giáo phụ học, Đại chùng viện thánh Giuse 2009.

Jos. Hải Đăng, OP.

Keine Kommentare

Hinterlasse eine Antwort

Deine E-Mail-Adresse wird nicht veröffentlicht. Erforderliche Felder sind markiert *

*

Du kannst folgende HTML-Tags benutzen: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>